Phật pháp ứng dụng Dấm của Tosui

Tosui là một thiền sư đã từ bỏ lối khuôn thước của thiền viện để sống với đám hành khất dưới một chân cầu. Khi ngài đã già quá, một ngưới bạn giúp đở ngài sống mà khỏi phải đi ăn xin. 


Ông ta bày cho Tosui cách gom cơm lại để chế ra dấm, và Tosui đã thực hiện đến khi ngài qua đời.

Trong khi Tosui làm dấm, một người hành khất cho ngài một bức tranh Phật. Tosui treo trên tường của căn chòi và dán một tấm bảng bên cạnh. Tấm bảng viết:


"Ông Phật A Di Ðà ạ: Căn chòi này chật chội quá. Con có thể giữ Ngài lại làm kẻ vô gia cư. Nhưng xin đừng nghĩ rằng con cầu xin Ngài cho con được tái sanh vào cõi cực lạc của Ngài nhé."

Dấm của Tosui

Phật pháp ứng dụng Dấm của Tosui

Tosui là một thiền sư đã từ bỏ lối khuôn thước của thiền viện để sống với đám hành khất dưới một chân cầu. Khi ngài đã già quá, một ngưới bạn giúp đở ngài sống mà khỏi phải đi ăn xin. 


Ông ta bày cho Tosui cách gom cơm lại để chế ra dấm, và Tosui đã thực hiện đến khi ngài qua đời.

Trong khi Tosui làm dấm, một người hành khất cho ngài một bức tranh Phật. Tosui treo trên tường của căn chòi và dán một tấm bảng bên cạnh. Tấm bảng viết:


"Ông Phật A Di Ðà ạ: Căn chòi này chật chội quá. Con có thể giữ Ngài lại làm kẻ vô gia cư. Nhưng xin đừng nghĩ rằng con cầu xin Ngài cho con được tái sanh vào cõi cực lạc của Ngài nhé."
Đọc thêm..
Phật pháp ứng dụng Dạy chỗ rốt ráo

Thời xưa ở Nhật, về đêm người ta thường dùng lồng đèn tre với ngọn nến bên trong. Một người mù đến viếng bạn vào ban đêm được gia chủ biếu cho cây đèn lồng mang về.


"Tôi chẳng cần đèn," ông ta bảo. "Tối và sáng đối với tôi đều giống nhau."


"Tôi biết anh không cần đèn để soi đường." người bạn trả lời, "nhưng nếu anh không mang đèn thì kẻ khác có thể đâm sầm vào anh. Thôi hãy cầm lấy."


Người mù ra đi với cây đèn lồng và chẳng bao lâu sau có người va vào ông. "Hãy xem chừng chứ!" ông nói lớn với người lạ. "Bộ không thấy ngọn đèn sao?"


"Nến của ông đã tắt ngấm rồi, ông bạn ạ," người lạ trả lời.

Dạy chỗ rốt ráo

Phật pháp ứng dụng Dạy chỗ rốt ráo

Thời xưa ở Nhật, về đêm người ta thường dùng lồng đèn tre với ngọn nến bên trong. Một người mù đến viếng bạn vào ban đêm được gia chủ biếu cho cây đèn lồng mang về.


"Tôi chẳng cần đèn," ông ta bảo. "Tối và sáng đối với tôi đều giống nhau."


"Tôi biết anh không cần đèn để soi đường." người bạn trả lời, "nhưng nếu anh không mang đèn thì kẻ khác có thể đâm sầm vào anh. Thôi hãy cầm lấy."


Người mù ra đi với cây đèn lồng và chẳng bao lâu sau có người va vào ông. "Hãy xem chừng chứ!" ông nói lớn với người lạ. "Bộ không thấy ngọn đèn sao?"


"Nến của ông đã tắt ngấm rồi, ông bạn ạ," người lạ trả lời.
Đọc thêm..
Phật pháp ứng dụng Nóng giận

Một thiền sinh đến than phiền cùng Bankei: "Bạch thầy, Con mắc cơn nóng giận không kềm được. Con phải làm sao để chửa?"


"Con có cái lạ lùng quá," Bankei trả lời. "Nào cho ta xem cái mà con có."


"Ngay bây giờ thì con không thể chỉ cho thầy thấy được," người kia trả lời.


"Khi nào thì con có thể chỉ nó cho ta?" Bankei hỏi.


"Nó nổi lên thật bất chừng," thiền sinh trả lời.


"Vậy thì," Bankei kết luận, "nó không đúng là thật tướng của con. Nếu nó là thật tướng thì con đã có thể chỉ cho ta thấy nó bất cứ lúc nào. Khi con mới sinh con không có nó, và cha mẹ con đã không giao nó cho con. Hãy suy nghĩ đến điều đó."

Nóng giận

Phật pháp ứng dụng Nóng giận

Một thiền sinh đến than phiền cùng Bankei: "Bạch thầy, Con mắc cơn nóng giận không kềm được. Con phải làm sao để chửa?"


"Con có cái lạ lùng quá," Bankei trả lời. "Nào cho ta xem cái mà con có."


"Ngay bây giờ thì con không thể chỉ cho thầy thấy được," người kia trả lời.


"Khi nào thì con có thể chỉ nó cho ta?" Bankei hỏi.


"Nó nổi lên thật bất chừng," thiền sinh trả lời.


"Vậy thì," Bankei kết luận, "nó không đúng là thật tướng của con. Nếu nó là thật tướng thì con đã có thể chỉ cho ta thấy nó bất cứ lúc nào. Khi con mới sinh con không có nó, và cha mẹ con đã không giao nó cho con. Hãy suy nghĩ đến điều đó."
Đọc thêm..
Phật pháp ứng dụng Hối cải thực sự

Ryokan hiến mình vào việc tu học Thiền. Một hôm ngài nghe nói đến chuyện người cháu phung phí tiền của cho một đào nương, mặc cho sự nguyền rủa của bà con quyến thuộc. Vã lại y là người thay thế Ryokan trong việc cai quản tài sản của gia đình, mà gia sản xem ra có cơ tan biến, cho nên thân nhân mới đến nhờ ngài ra tay.


Ryokan phải du hành một đoạn đường xa để gặp người cháu mà ngài cách xa đã nhiều năm. Người cháu vui mừng gặp lại người chú và mời ở lại qua đêm.


Cả đêm Ryokan ngồi tham thiền. Ðến sáng, gần lúc ra đi ngài bảo người trẻ tuổi:


"Ta đã già, tay run. Cháu có thể giúp ta cột dây chiếc dép rơm được không?"


Người cháu hăng hái giúp liền. "Cám ơn cháu," Ryokan kết thúc, "cháu thấy không, một người trở nên già và yếu mỗi ngày. Hãy bảo trọng lấy thân." Xong Ryokan ra đi, không hề nhắc một lời nào đến cô đào nương hoặc lời quở trách của thân nhân. Nhưng kể từ sáng hôm ấy, tính hoang phí của người cháu chấm dứt.

Hối cải thực sự

Phật pháp ứng dụng Hối cải thực sự

Ryokan hiến mình vào việc tu học Thiền. Một hôm ngài nghe nói đến chuyện người cháu phung phí tiền của cho một đào nương, mặc cho sự nguyền rủa của bà con quyến thuộc. Vã lại y là người thay thế Ryokan trong việc cai quản tài sản của gia đình, mà gia sản xem ra có cơ tan biến, cho nên thân nhân mới đến nhờ ngài ra tay.


Ryokan phải du hành một đoạn đường xa để gặp người cháu mà ngài cách xa đã nhiều năm. Người cháu vui mừng gặp lại người chú và mời ở lại qua đêm.


Cả đêm Ryokan ngồi tham thiền. Ðến sáng, gần lúc ra đi ngài bảo người trẻ tuổi:


"Ta đã già, tay run. Cháu có thể giúp ta cột dây chiếc dép rơm được không?"


Người cháu hăng hái giúp liền. "Cám ơn cháu," Ryokan kết thúc, "cháu thấy không, một người trở nên già và yếu mỗi ngày. Hãy bảo trọng lấy thân." Xong Ryokan ra đi, không hề nhắc một lời nào đến cô đào nương hoặc lời quở trách của thân nhân. Nhưng kể từ sáng hôm ấy, tính hoang phí của người cháu chấm dứt.
Đọc thêm..
Phật pháp ứng dụng Bàn tay của Mokusen

Mokusen Hiki trụ trì ở một tự viện thuộc tỉnh Tamba. Một trong nhưng đệ tử than phiền với ngài về tánh bủn xỉn của vợ mình. Mokusen đến viếng bà vợ của người đệ tử và giơ ra nắm đấm trước mặt người đàn bà.


"Vậy là có ý gì?" bà ta ngạc nhiên hỏi.


"Giả sử nắm tay của ta cứ như thế này mãi. Bà gọi nó là gì?" ngài hỏi.


"Dị dạng," người đàn bà trả lời.


Rồi ngài xòe bàn tay ra trước mặt bà và hỏi: Giả sử nếu nó cứ như thế này mãi, bà gọi thế nào?"


"Một loại dị dạng khác," bà ta trả lời.


"Nếu bà hiểu được như vậy," Mokusen kết luận, "bà là một người vợ tốt." Xong ngài ra về.


Sau lần viếng thăm đó, người đàn bà hết lòng giúp chồng bố thí và tiết kiệm.

Bàn tay của Mokusen

Phật pháp ứng dụng Bàn tay của Mokusen

Mokusen Hiki trụ trì ở một tự viện thuộc tỉnh Tamba. Một trong nhưng đệ tử than phiền với ngài về tánh bủn xỉn của vợ mình. Mokusen đến viếng bà vợ của người đệ tử và giơ ra nắm đấm trước mặt người đàn bà.


"Vậy là có ý gì?" bà ta ngạc nhiên hỏi.


"Giả sử nắm tay của ta cứ như thế này mãi. Bà gọi nó là gì?" ngài hỏi.


"Dị dạng," người đàn bà trả lời.


Rồi ngài xòe bàn tay ra trước mặt bà và hỏi: Giả sử nếu nó cứ như thế này mãi, bà gọi thế nào?"


"Một loại dị dạng khác," bà ta trả lời.


"Nếu bà hiểu được như vậy," Mokusen kết luận, "bà là một người vợ tốt." Xong ngài ra về.


Sau lần viếng thăm đó, người đàn bà hết lòng giúp chồng bố thí và tiết kiệm.
Đọc thêm..
Ý nghĩa màu lam

Để tạo sự đồng nhất của một tổ chức, người ta thường đòi hỏi các thành viên phải mặc áo quần đồng phục.

Tùy theo mục đích của tổ chức, đồng phục cũng được chọn lựa để biểu lộ tinh thần của tổ chức đó. Gia Đình Phật Tử Việt Nam cũng không ngoại lệ, và màu lam được chọn lựa cho màu áo của tổ chức.

Màu Lam của Gia Đình Phật Tử với những ý nghĩa sau:

1. Bình đẳng: Tổ chức GĐPT gồm đủ mọi thành phần, từ một em bé lên năm đến một cụ già bảy tám mươi tuổi; từ một người lao động tay chân đến những người học rộng tài cao; từ một em học sinh vỡ lòng đến một vị giáo sư kinh nghiệm. Tất cả đều đến với nhau trong tinh thần bình đẳng, san sẻ từ cái vui đến cái khổ mà không bao giờ phân bì hơn thua cao thấp.

2. Hòa đồng: Màu lam là màu hòa hợp với thiên nhiên và màu sắc. Màu lam có thể đứng chung với bất cứ màu nào mà không quá nổi bật hoặc chìm đắm. Nếu một màu sặc sỡ như đen hoặc đỏ, thì màu lam là một màu nhu hòa. Nếu một buổi trời nắng chang chang, màu lam là một màu dịu mát. Nếu một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo, thì màu lam là màu mang theo hơi ấm. Tất cả đó là mục đích của Tổ Chức là luôn đem vui cứu khổ đến cho muôn loài.

3. Tinh tấn và nhẫn nhục: Màu lam là một màu dễ cảm mến. Người mặc áo màu lam vào mình cũng không thể nóng nảy, hoặc u buồn mà phải luôn luôn nhẫn nhục và tinh tấn trên đường tu học và giúp ích mọi loài.

Màu lam là một màu dễ dơ nhưng khó thấy, biểu lộ cho một tinh thần của Phật Giáo. Phật tánh hay ma tánh cũng tại tâm ta. Nếu chúng ta vẫn mãi chạy theo tham dục thì Phật tánh cứ mãi che khuất. Nếu chúng ta biết xa dần dục vọng thì Phật tánh lại càng ngày càng tăng trưởng trong tâm chúng ta.

Chiếc áo Lam của tổ chức mang một ý nghĩa thật cao quý. Chúng ta nên cố gắng giữ gìn chiếc áo cũng như giữ gìn thân tâm của chúng ta phải luôn trong sạch. Không làm hện ố nó. Có như vậy mới xứng đáng là một đoàn sinh của Tổ Chức.

Ý nghĩa màu lam

Ý nghĩa màu lam

Để tạo sự đồng nhất của một tổ chức, người ta thường đòi hỏi các thành viên phải mặc áo quần đồng phục.

Tùy theo mục đích của tổ chức, đồng phục cũng được chọn lựa để biểu lộ tinh thần của tổ chức đó. Gia Đình Phật Tử Việt Nam cũng không ngoại lệ, và màu lam được chọn lựa cho màu áo của tổ chức.

Màu Lam của Gia Đình Phật Tử với những ý nghĩa sau:

1. Bình đẳng: Tổ chức GĐPT gồm đủ mọi thành phần, từ một em bé lên năm đến một cụ già bảy tám mươi tuổi; từ một người lao động tay chân đến những người học rộng tài cao; từ một em học sinh vỡ lòng đến một vị giáo sư kinh nghiệm. Tất cả đều đến với nhau trong tinh thần bình đẳng, san sẻ từ cái vui đến cái khổ mà không bao giờ phân bì hơn thua cao thấp.

2. Hòa đồng: Màu lam là màu hòa hợp với thiên nhiên và màu sắc. Màu lam có thể đứng chung với bất cứ màu nào mà không quá nổi bật hoặc chìm đắm. Nếu một màu sặc sỡ như đen hoặc đỏ, thì màu lam là một màu nhu hòa. Nếu một buổi trời nắng chang chang, màu lam là một màu dịu mát. Nếu một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo, thì màu lam là màu mang theo hơi ấm. Tất cả đó là mục đích của Tổ Chức là luôn đem vui cứu khổ đến cho muôn loài.

3. Tinh tấn và nhẫn nhục: Màu lam là một màu dễ cảm mến. Người mặc áo màu lam vào mình cũng không thể nóng nảy, hoặc u buồn mà phải luôn luôn nhẫn nhục và tinh tấn trên đường tu học và giúp ích mọi loài.

Màu lam là một màu dễ dơ nhưng khó thấy, biểu lộ cho một tinh thần của Phật Giáo. Phật tánh hay ma tánh cũng tại tâm ta. Nếu chúng ta vẫn mãi chạy theo tham dục thì Phật tánh cứ mãi che khuất. Nếu chúng ta biết xa dần dục vọng thì Phật tánh lại càng ngày càng tăng trưởng trong tâm chúng ta.

Chiếc áo Lam của tổ chức mang một ý nghĩa thật cao quý. Chúng ta nên cố gắng giữ gìn chiếc áo cũng như giữ gìn thân tâm của chúng ta phải luôn trong sạch. Không làm hện ố nó. Có như vậy mới xứng đáng là một đoàn sinh của Tổ Chức.
Đọc thêm..
Phật pháp ứng dụng hương xuân

Níu chân đời xuân cũ
Ráng giữ tìm hương xưa
Quá khứ trôi biền biệt
Theo từng buổi tiễn đưa.

Hồn ta trôi viễn mộng
Thân ta dạt âm ba
Sớm khuya trên đồi nhỏ
Cảm giác nào phù hoa?

Giấc ngủ say trên núi
Nào chợt biết xuân về
Sáng nay ra phố chợ
Bỗng thấy mình đang mơ?

Đơm thử xuân hiện hữu 
Lạc lõng đời trôi qua 
Chuyện thường tình ai hiểu 
Chiều đông lạnh nắng nhòa 
Lượng tình ôi thế sự!
Một ánh trăng cuối mùa.

Hương xuân

Phật pháp ứng dụng hương xuân

Níu chân đời xuân cũ
Ráng giữ tìm hương xưa
Quá khứ trôi biền biệt
Theo từng buổi tiễn đưa.

Hồn ta trôi viễn mộng
Thân ta dạt âm ba
Sớm khuya trên đồi nhỏ
Cảm giác nào phù hoa?

Giấc ngủ say trên núi
Nào chợt biết xuân về
Sáng nay ra phố chợ
Bỗng thấy mình đang mơ?

Đơm thử xuân hiện hữu 
Lạc lõng đời trôi qua 
Chuyện thường tình ai hiểu 
Chiều đông lạnh nắng nhòa 
Lượng tình ôi thế sự!
Một ánh trăng cuối mùa.

Đọc thêm..
Nói về chữ Hương. Hương, nghĩa là thơm, một danh từ chỉ cho mùi thơm. Chỉ có mũi mới ngửi được mùi. Theo Duy Thức Học của Phật Giáo gọi cái biết của mũi là Tỷ thức, danh từ vật lý là khứu giác. Cái biết của mũi có phân biệt nhiều mùi: tanh, hôi, thơm, thối, mốc meo…

Chữ Hương là tiếng Tàu, tiếng Việt nói là Thơm. Người Việt ta có lúc nói cả hai chữ “hương thơm.” Thế nào gọi là Thơm? Mùi nào, mũi vừa nghe, ý không phản đối, bằng lòng và thích, đó là mùi thơm. Ngược lại, không gọi là hương. Có những mùi thơm làm quyến rũ con người vừa đi qua, phải quay lui, liếc mắt tìm xem mùi thơm đó từ chỗ nào, vật nào tỏa ra khi mắt chưa phát hiện. Hoặc là một vật thể mang nhãn hiệu nước hoa khi mắt đã thấy, người ta cầm lên mũi ngửi để xác định phẩm chất và giá trị của nó.

Mùi thơm, đa số ở các loài hoa như hoa Sen, Hồng, Ngọc Lan, Lài, Dạ Lý Hương, v.v… và gỗ như gỗ Trầm.

Các loài hoa, chúng tự tỏa ra mùi thơm. Còn gỗ trầm phải đốt lên tỏa khói mới nghe thơm. Trong các loài hoa có mùi thơm, thì hoa sen tỏa mùi thơm ngát và thanh thoát hơn tất cả, cho nên gọi là Hương Sen và Trầm cũng thơm ngát, thanh thoát khắp không gian, gọi là Hương trầm khi được đốt lên, nghe rõ qua lời ca: “Trầm hương đốt, xông ngát mười phương,” cho nên gọi là Trầm Hương. Khói trầm bốc lên không trung quyện lại tành mây gọi là Hương vân (mây thơm).

Hai loại mùi thơm tinh khiết và quyến rũ lòng người, đó là hoa và trầm. Do vậy nhân loại trên thế giới trong các giai cấp vua, chúa, quý tộc, giàu sang… từ ngàn xưa, đã tìm đủ mọi cách, làm sao cho những mùi thơm của hoa, trầm luôn tồn tại mãi nơi bản thân mình. Với hoa, khó có thể tạo ra mùi thơm lâu dài! Còn trầm hương có thể được, bằng cách đốt lên trong căn phòng, rồi đặt để những quần, áo, xiêm, y vào đó, để xông ướp mùi thơm.

Ngày nay khoa học, kỹ thuật của nhân loại đã tiến bộ, cho nên đã chế tạo ra nhiều loại nước hoa rất tinh xảo cho nam giới, nữ giới một cách riêng biệt có mùi thơm thanh nhẹ, đậm đà, nồng nàn thật quyến rũ khứu giác con người.

Mùi thơm trên cõi đời này được thấy ở hai lãnh vực vật chất và tinh thần. Vật chất như những thứ: Hoa, trầm, cà phê, rượu, cam, lê, ổi, táo, rau thơm, ngò rí, v.v… Mùi thơm của ngò, khi cầm trong tay liền nghe thơm, bỏ vào nồi canh, càng nghe rõ hơn, đúng như lời người chị dặn: “Khi nấu canh, em nhớ bỏ ngò vào cho thơm.” Ngũ cốc, như các thứ gạo, nếp đều có mùi thơm. 

Chất thơm của gạo, khi bản thể của chúng đang có tên Lúa trên cánh đồng đã thơm rồi, gọi là hương đồng nội, được nghe qua lời thơ: “Hôm qua em đi tỉnh về, hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” (thơ Nguyễn Bính). Bản thể đang còn hạt lúa đã thơm, sau khi bị xay xác thành gạo, nấu lên thành cơm càng thơm hơn, nghe là muốn ăn liền. Để cho khách hàng được thấy rõ, các chủ chợ đề ngoài bao: “ Gạo thơm thượng hạng.” Có thứ gạo ít thơm, nhưng người ta cứ đề thơm thượng hạng để được giá.

Tinh thần. Lãnh vực này, được đa số Phật tử đem lời thắc mắc rằng; tinh thần mà cũng có mùi thơm à? Xin trả lời, có chứ!

Mùi thơm của tinh thần được gọi là Tâm Hương , hay còn gọi là lòng thơm thảo. Tâm hương cũng được thấy ở hai giới nhân sinh: Đời và Đạo. Đạo ở đây là Đạo Phật. Chỉ có Đạo Phật mới có Tâm hương. Người theo Đạo Phật, ai cũng được có từ 1, 3,4 hay 5 Tâm hương (vị hương của tâm) theo nguyên lý, hễ có tu tập Phật pháp một cách tinh tấn, là có tâm hương. Người không tu tập Phật pháp, cũng có nhưng, hương đó gọi là hương đời, do có công gì với núi sông, được đời biết đến. Hương có tu tập Phật pháp gọi là Hương Đạo.

TÂM HƯƠNG của người thế gian Việt Nam. Tâm hương của người Việt chúng ta, đó là những đức tính nhân bản đầy nhân ái, đạo đức, hiền lành, biết thương yêu đồng bào, sống đời khẳng khái, cương trực, công minh, liêm chính, chân thật, tận tụy việc nước, việc nhà thật chu toàn… Tâm hương này, được thấy ở các hàng sĩ phu, trí thức khoa bảng ở các địa vị giáo dục, chính quyền, chính trị, quân sự trong mọi thời đại trên quê hương xưa nay. 

Tất cả đức tính nhân bản này là nền tảng tạo nên lòng yêu nước, cương quyết chống ngoại xâm một cách bất khuất trước bạo lực của giặc, để giành độc lập dân tộc. Tâm hương là đó, cũng được gọi là vị ngọt tâm hồn, lòng thơm thảo. Tâm hương của những nhà đạo đức, liêm chính này, được đi vào tâm hồn của toàn dân trên cả nước, đâu đâu cũng nghe, biết đến. 

Những người có tâm hương, một khi được có trong lòng, ắt phải hiển lộ ra những hành động quên mình: cho Tổ quốc, vì dân, vì nước, luôn vị tha, lợi lộc cho dân tộc trước hết và trên hết. Phải có danh gì với núi sông như vậy, thì danh mới Thơm, tên tuổi được đi vào trang sử Việt, đúng theo định lý duyên khởi của Phật Giáo “Thử hữu cố bỉ hữu” (Cái này có, cái kia có).

Phật pháp ứng dụng Ngũ tâm hương

TÂM HƯƠNG của người trong Đạo Phật , không nhất thiết là Tăng, Ni, Phật tử của Phật Giáo Việt Nam. Những quốc gia nào trên thế giới đang có Đạo Phật hiện hữu, mà Tăng, Ni, Phật tử, tại các nước đó hễ có quyết tâm học Phật và tu tập đúng chánh đạo, là có ngay Tâm Hương. Từ Tâm hương cơ bản này, là mẹ đẻ ra 5 người con khác nữa có tên HƯƠNG. 1-Giới hương. 2- Định hương. 3- Huệ hương. 4- Giải thoát hương. 5- Tri kiến hương . Tất cả 5 người con này cùng sống chung trong ngôi nhà Tâm linh (A- lại- da-thức hay Bạch tịnh thức). 

Nói rõ hơn, trong tâm thức của các cấp Tăng, Ni, Phật tử dù ở quốc độ nào, luôn có 5 Tâm Hương do tu tập Phật pháp và hành trì Giới luật thật nghiêm minh tinh tấn. Do vậy, trước khi đi vào mọi thứ nghi lễ, người con Phật, bất luận Tăng hay Cư Sĩ đều sử dụng 5 Tâm hương của mình để Cúng Hương lên Tam Bảo trong 10 phương hiện tại (Hiện tiền Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng). 

Gọi cúng hương này là “Niệm hương”. Bài Niệm hương: Giới hương, Định hương, giữ Huệ hương, Giải thoát, Giải thoát Tri kiến hương. Quang minh vân (mây) đài biến pháp giới, cúng dường thập phương Tam Bảo tiền. Nam Mô hương Vân Cái Bồ tát, Ma ha tát. Hoặc “Nam Mô hương cúng dường Bồ tát, Ma ha tát”. 

Cho dù ngôn ngữ lúc niệm hương bạch Phật là tiếng Việt, Tầu, Nhật, Anh, Pháp, Mỹ…vẫn không ngoài 5 Tâm Hương đó(giới, định, huệ, giải thoát và tri kiến). Cụm từ “Hương vân cái”, có nghĩa là : “Cây lọng khói trầm hương”. Do khói trầm, từ lư trầm tỏa lên không trung, tụ lại như cây lộng giữa bầu trời bao la, nếu không nói là nhân cách hóa.

Bài niệm hương trên không thấy tác giả, hiện hữu rất lâu đời trong chốn thiền môn Việt Nam cả thế kỷ qua từ 1900, được chư Tăng, Ni tại các chùa Việt Nam trên 3 miền Bắc, Trung, Nam niệm lên thành lời để cúng hương trước bàn Phật. Niệm đủ 5 tâm hương ấy, rồi cắm ba cây hương lên lư hương, sau đó vào nghi lễ tụng niệm cầu Siêu, cầu An, lạy sám hối, v.v…

Sau này, một số chư Tăng thuộc Tổng Hội Phật Giáo VN đã soạn thêm một vài bài Niệm hương. Chẳng hạn như bài DÂNG HƯƠNG: Hương xông đảnh báu. Giới, định, tuệ hương.

Giải thoát, tri kiến quý khôn lường. Ngào ngạt khắp muôn phương. Thanh tịnh tâm hương. Đệ tử nguyện cúng dường. Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. Bài Dâng Hương này vẫn còn đủ 5 Tâm Hương.

Một bài niệm hương nữa, có tên “CÚNG HƯƠNG.” Nguyện thử diệu hương vân. Biến mãn thập phương giới. Cúng dường nhứt thiết Phật. Tôn Pháp chư Bồ tát... Bài Cúng Hương Tán Phật : “Nguyện đem lòng thành kính. Gởi theo đám mây hương. Phưởng phất khắp mười phương. Cúng dường ngôi Tam bảo...” 

Những bài Niệm Hương, Cúng Hương, càng về sau, bớt đi 5 tâm hương. Mặc dù có bớt đi, nhưng tâm ý những người con Phật cúng hương, niệm hương vẫn ẩn tàng 5 tâm hương bên trong. Qua đây, cho ta thấy 5 tâm hương rất quan trọng đối với các hành giả trên bước đường tu tập Phật pháp để đạt cho bằng được tư lương giải thoát.

Năm Tâm Hương : Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Tri kiến hương. Năm tâm hương được viết ra thành văn, thì chữ hương luôn đi cùng với 5 chữ: Giới, Định, Huệ, Giải thoát, Giải Thoát Tri kiến. Khi niệm hương, chư Tăng, Ni đọc theo lời văn của niệm hương, cho nên có chữ Giữ đi với Huệ hương và 2 lần Giải thoát, Giải thoát, rồi mới đến Tri kiến hương sau cùng.

Người niệm hương trước bàn Phật, phải là Tăng, Ni có đủ ba đức tính lớn: Giới, Định, Huệ, ba Tâm Hương của các bậc tu hành cao tột, trong vai trò trụ trì ngôi chùa, Tu viện, lãnh đạo tối cao trong các giáo hội, mới có thể đại diện cho Tăng đoàn và Phật tử, quỳ trước bàn Phật, nói lời tác bạch lên chư Phật, Bồ Tát, chư Thánh hiền Tăng trong mười phương, trước khi đi vào nghi lễ cầu an, cầu siêu, các lễ vía chư Phật, Bồ Tát, chư vị Tổ sư, Hòa Thượng, Ni sư tiền bối đã viên tịch.

Để biết rõ thêm bản chất và lý nghĩa của 5 tâm hương qua sự giảng luận sau đây: Năm Tâm hương trên, trong đó ba thứ Giới, Định, Huệ (Tuệ), là nền tảng vượt thoát khỏi sinh, tử, luân hồi, gọi là ba thứ Vô lậu. Lậu, có nghĩa là bị lọt vào con đường sanh tử, luân hồi, bị lọt xuống ba cõi Ác: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Vô, có nghĩa là không bị. Vô lậu, không bị lọt vào ba đường ác. Qua đó, cho ta thấy rằng; chư Tôn đức Tăng, Ni trong Phật Giáo Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung, đều có Tâm vô lậu, cho nên vào lời niệm hương, quý Ngài nói ba lời: Gới hương, Định hương, giữ Huệ hương…

Giới Hương . Bản chất của Giới là thanh tịnh. Cội gốc của muôn hạnh lành, do tâm hành giả trên vận hành tu tập, có quyết tâm hành trì các giới luật của Phật, sống đúng tám con đường chơn chánh một cách nghiêm mật. Suốt đời tu hành, thân, khẩu, ý luôn thanh tịnh, nguyện làm các điều lành. 

Được mọi người ngoài xã hội, trong Phật giáo thấy rõ qua những đức tính: từ, bi, hỷ, xả, không còn những thứ ngã: nhân, sở, ái… luôn thương yêu mọi loài vật và con người trong các gới một cách bình đẳng trong đối đãi. Những bậc tu hành có giới đức nghiêm minh, được tỏa ra khắp nơi, làm cho đồng bào các giới nghe, biết đến, giống như nghe đến mùi thơm của hương trầm, cho nên cụm từ Giới hương, cũng được gọi là Giới Pháp Thân, như thân Phật.

Định hương. Định, nghĩa là tâm thanh tịnh, vắng lặng, gọi tắt là tịch tịnh. Nói khác hơn, tâm của hành giả trong đạo Phật trên vận hành tu tập, luôn luôn tỉnh thức, an trú trong chánh niệm, đối cảnh luôn vô tâm, xa lìa mọi vọng niệm, không hề khởi tâm nhận thức hay khái niệm, gọi là im lặng như chánh pháp. 

Tuy nhiên, đôi lúc cũng tư duy về công án tu tập và phương cách phụng trì chánh pháp cho công cuộc hoằng hóa độ sanh, luôn nói đúng theo chánh pháp. Tất cả những tư tưởng vì đạo pháp này, giống như khói trầm hương từ lư trầm vươn lên cao vút tận trời mây, không bao giờ lộn xuống không gian cõi trần. 

Qua đó, cho ta thấy rằng; tâm định là tâm siêu lên như khói trầm hương. Cũng như vậy, tâm hồn của chư Tăng, Ni luôn luôn sống trong định, cho dù có tư duy công việc đạo pháp, tâm hồn quý Ngài, cũng vẫn vươn lên như khói trầm hương, vì không có việc nào là ích kỷ, riêng tư của quý Ngài ! Nếu không nói là tự tánh bất động trước vật chất. Do đó cụm từ Định hương, được gọi là Định Pháp Thân, như thân Phật.

Huệ hương. Huệ, nói cho đủ là trí huệ, hay trí tuệ, tuệ giác. Tâm thức của hành giả trong đạo Phật, được có trí huệ, là do qua quá trình giữ gìn giới luật một cách kỹ lưỡng, nói như lời Phật dạy: “Người tu tập Phật pháp phải giữ giới luật, như gìn giữ con Ngươi của mình. Bên cạnh đó, luôn thường hằng hành thiền định, gọi là sống trong định. 

Nhờ hai thứ: gìn giữ giới luật và thiền định, là năng lực xua đuổi, nhận chìm các lậu hoặc bên trong, làm cho tâm yên lặng, trống rỗng, không bị cảnh trần chi phối, là nền tảng phát sinh ra trí huệ, giống như tim đèn sáng rực, đứng yên một chỗ không bị lu, bị tắt, do có bóng đèn che gió. Nói rõ hơn, tâm hành giả không còn bị tám ngọn gió cảnh cảnh giới (bát phong) thổi vào tâm ý nữa.

Tâm hành giả, một khi được có Huệ rồi, không bao giờ nghĩ đến các việc ác. Bởi vì đã thấy rõ nguyên lý của các việc ác, nếu hành động, ắt sẽ nhận lãnh quả báo nghiệp của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, luân hồi, sanh tử, cho nên luôn tránh né. Nếu có nghĩ, nghĩ đến những điều hay, lẽ phải, cao siêu, mang tính trong sạch, thơm tho, giải thoát. Nếu hành động cứu khổ độ sanh, thì tâm hồn vươn cao, siêu lên giống như khói trầm hương luôn bay cao lên không trung. Vì thế cho nên cụm từ

Huệ hương, được gọi là Huệ Pháp Thân, như thân Phật. Giải thoát hương . Một lúc nào đó, hành giả tự cảm thấy tâm hồn mình thảnh thơi, thanh tịnh, an lạc trong thực tại, không nghĩ ngợi, giận hờn, suy tư gì hết trước sắc trần thế gian. Được như vậy, do thường trực tri hành ba giáo pháp Vô lậu : Giới, Định, Huệ. Ba tâm hương vô lậu này, cũng gọi là Hương Vị Chân Tâm, chính là tâm giải thoát của những hành giả trong đạo Phật nói chung, chư Tăng, Ni nói riêng. Nếu ai đang có ba Tâm hương ấy ngay thực tại trong kiếp này, ắt sẽ được giải thoát, siêu lên các thế chư Phật ở mai sau. Qua đây, cho ta thấy rõ ràng ba pháp: Giới, Định, Huệ, là NHÂN. Hành giả tri hành ba pháp vô lậu này một cách đúng đắn, thì nhất định được có quả giải thoát không sai chạy.

Giải Thoát Tri Kiến Hương . Giải Thoát Tri kiến hương, là phần của hành giả đã thấy được tư lương giải thoát, là do ba pháp Vô lậu: Giới, Định, Huệ, qua quá trình tu tập về giới luật , thiền định. Nhờ thiền định, tâm có trí tuệ. Cho nên, nghĩa của Giải Thoát Tri kiến Hương, là phần thấy cuối cùng của cái tâm có chứa đựng ba môn học giải thoát ngay sau khi được có Trí huệ hay còn gọi Tuệ giác.

Với chư tôn đức trong Phật giáo Việt Nam và thế giới, càng thấy rõ hơn ba môn học Vô lậu (Tam vô lậu học), là nền tảng trọng yếu đối với những ai đến với đạo Phật, để tìm cầu cho mình con đường giải thoát, là phải tiếp nhận “BA MÔN HỌC GIẢI THOÁT” (Tam Vô Lậu Học), rồi quyết tâm tu tập đúng cách, đúng pháp về Giới, Định, Huệ, thì nhất định ắt sẽ được có Tâm hương giải thoát, thường hằng siêu lên các thế giới chư Phật ngay trong kiếp này, không đợi ở tương lai sau khi xả bỏ báo thân trần thế!

Hành giả thấy biết trước “Tâm Hương Giải Thoát” (Tri kiến Hương) hôm nay và cả mai sau, đó là những danh Tăng Phật Giáo Việt Nam. Cho nên quý Ngài đã biên soạn thêm một số bài Niệm Hương Cúng Dường, tác bạch lên chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền Tăng trước khi vào các nghi thức tụng niệm. 

Trong bài niệm hương. Nếu không nói rằng; để nhấn mạnh và nhắn nhử quý Phật tử các giới về ba bài pháp Giới, Định, Huệ là con đường giải thoát rất quan trọng, cần phải tinh tấn, tri hành trên vận hành tu tập…Do vậy, nhiều bài niệm hương sau này; từ 1959 trở đi, cũng do một số danh Tăng Việt Nam biên soạn có Giới, Định, Huệ hương hay không có nhưng, Giới, Định, Huệ Hương vẫn ẩn tàng trong bài, không bao giờ mất ba thứ quan trọng đó.

Ngũ tâm hương

Nói về chữ Hương. Hương, nghĩa là thơm, một danh từ chỉ cho mùi thơm. Chỉ có mũi mới ngửi được mùi. Theo Duy Thức Học của Phật Giáo gọi cái biết của mũi là Tỷ thức, danh từ vật lý là khứu giác. Cái biết của mũi có phân biệt nhiều mùi: tanh, hôi, thơm, thối, mốc meo…

Chữ Hương là tiếng Tàu, tiếng Việt nói là Thơm. Người Việt ta có lúc nói cả hai chữ “hương thơm.” Thế nào gọi là Thơm? Mùi nào, mũi vừa nghe, ý không phản đối, bằng lòng và thích, đó là mùi thơm. Ngược lại, không gọi là hương. Có những mùi thơm làm quyến rũ con người vừa đi qua, phải quay lui, liếc mắt tìm xem mùi thơm đó từ chỗ nào, vật nào tỏa ra khi mắt chưa phát hiện. Hoặc là một vật thể mang nhãn hiệu nước hoa khi mắt đã thấy, người ta cầm lên mũi ngửi để xác định phẩm chất và giá trị của nó.

Mùi thơm, đa số ở các loài hoa như hoa Sen, Hồng, Ngọc Lan, Lài, Dạ Lý Hương, v.v… và gỗ như gỗ Trầm.

Các loài hoa, chúng tự tỏa ra mùi thơm. Còn gỗ trầm phải đốt lên tỏa khói mới nghe thơm. Trong các loài hoa có mùi thơm, thì hoa sen tỏa mùi thơm ngát và thanh thoát hơn tất cả, cho nên gọi là Hương Sen và Trầm cũng thơm ngát, thanh thoát khắp không gian, gọi là Hương trầm khi được đốt lên, nghe rõ qua lời ca: “Trầm hương đốt, xông ngát mười phương,” cho nên gọi là Trầm Hương. Khói trầm bốc lên không trung quyện lại tành mây gọi là Hương vân (mây thơm).

Hai loại mùi thơm tinh khiết và quyến rũ lòng người, đó là hoa và trầm. Do vậy nhân loại trên thế giới trong các giai cấp vua, chúa, quý tộc, giàu sang… từ ngàn xưa, đã tìm đủ mọi cách, làm sao cho những mùi thơm của hoa, trầm luôn tồn tại mãi nơi bản thân mình. Với hoa, khó có thể tạo ra mùi thơm lâu dài! Còn trầm hương có thể được, bằng cách đốt lên trong căn phòng, rồi đặt để những quần, áo, xiêm, y vào đó, để xông ướp mùi thơm.

Ngày nay khoa học, kỹ thuật của nhân loại đã tiến bộ, cho nên đã chế tạo ra nhiều loại nước hoa rất tinh xảo cho nam giới, nữ giới một cách riêng biệt có mùi thơm thanh nhẹ, đậm đà, nồng nàn thật quyến rũ khứu giác con người.

Mùi thơm trên cõi đời này được thấy ở hai lãnh vực vật chất và tinh thần. Vật chất như những thứ: Hoa, trầm, cà phê, rượu, cam, lê, ổi, táo, rau thơm, ngò rí, v.v… Mùi thơm của ngò, khi cầm trong tay liền nghe thơm, bỏ vào nồi canh, càng nghe rõ hơn, đúng như lời người chị dặn: “Khi nấu canh, em nhớ bỏ ngò vào cho thơm.” Ngũ cốc, như các thứ gạo, nếp đều có mùi thơm. 

Chất thơm của gạo, khi bản thể của chúng đang có tên Lúa trên cánh đồng đã thơm rồi, gọi là hương đồng nội, được nghe qua lời thơ: “Hôm qua em đi tỉnh về, hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” (thơ Nguyễn Bính). Bản thể đang còn hạt lúa đã thơm, sau khi bị xay xác thành gạo, nấu lên thành cơm càng thơm hơn, nghe là muốn ăn liền. Để cho khách hàng được thấy rõ, các chủ chợ đề ngoài bao: “ Gạo thơm thượng hạng.” Có thứ gạo ít thơm, nhưng người ta cứ đề thơm thượng hạng để được giá.

Tinh thần. Lãnh vực này, được đa số Phật tử đem lời thắc mắc rằng; tinh thần mà cũng có mùi thơm à? Xin trả lời, có chứ!

Mùi thơm của tinh thần được gọi là Tâm Hương , hay còn gọi là lòng thơm thảo. Tâm hương cũng được thấy ở hai giới nhân sinh: Đời và Đạo. Đạo ở đây là Đạo Phật. Chỉ có Đạo Phật mới có Tâm hương. Người theo Đạo Phật, ai cũng được có từ 1, 3,4 hay 5 Tâm hương (vị hương của tâm) theo nguyên lý, hễ có tu tập Phật pháp một cách tinh tấn, là có tâm hương. Người không tu tập Phật pháp, cũng có nhưng, hương đó gọi là hương đời, do có công gì với núi sông, được đời biết đến. Hương có tu tập Phật pháp gọi là Hương Đạo.

TÂM HƯƠNG của người thế gian Việt Nam. Tâm hương của người Việt chúng ta, đó là những đức tính nhân bản đầy nhân ái, đạo đức, hiền lành, biết thương yêu đồng bào, sống đời khẳng khái, cương trực, công minh, liêm chính, chân thật, tận tụy việc nước, việc nhà thật chu toàn… Tâm hương này, được thấy ở các hàng sĩ phu, trí thức khoa bảng ở các địa vị giáo dục, chính quyền, chính trị, quân sự trong mọi thời đại trên quê hương xưa nay. 

Tất cả đức tính nhân bản này là nền tảng tạo nên lòng yêu nước, cương quyết chống ngoại xâm một cách bất khuất trước bạo lực của giặc, để giành độc lập dân tộc. Tâm hương là đó, cũng được gọi là vị ngọt tâm hồn, lòng thơm thảo. Tâm hương của những nhà đạo đức, liêm chính này, được đi vào tâm hồn của toàn dân trên cả nước, đâu đâu cũng nghe, biết đến. 

Những người có tâm hương, một khi được có trong lòng, ắt phải hiển lộ ra những hành động quên mình: cho Tổ quốc, vì dân, vì nước, luôn vị tha, lợi lộc cho dân tộc trước hết và trên hết. Phải có danh gì với núi sông như vậy, thì danh mới Thơm, tên tuổi được đi vào trang sử Việt, đúng theo định lý duyên khởi của Phật Giáo “Thử hữu cố bỉ hữu” (Cái này có, cái kia có).

Phật pháp ứng dụng Ngũ tâm hương

TÂM HƯƠNG của người trong Đạo Phật , không nhất thiết là Tăng, Ni, Phật tử của Phật Giáo Việt Nam. Những quốc gia nào trên thế giới đang có Đạo Phật hiện hữu, mà Tăng, Ni, Phật tử, tại các nước đó hễ có quyết tâm học Phật và tu tập đúng chánh đạo, là có ngay Tâm Hương. Từ Tâm hương cơ bản này, là mẹ đẻ ra 5 người con khác nữa có tên HƯƠNG. 1-Giới hương. 2- Định hương. 3- Huệ hương. 4- Giải thoát hương. 5- Tri kiến hương . Tất cả 5 người con này cùng sống chung trong ngôi nhà Tâm linh (A- lại- da-thức hay Bạch tịnh thức). 

Nói rõ hơn, trong tâm thức của các cấp Tăng, Ni, Phật tử dù ở quốc độ nào, luôn có 5 Tâm Hương do tu tập Phật pháp và hành trì Giới luật thật nghiêm minh tinh tấn. Do vậy, trước khi đi vào mọi thứ nghi lễ, người con Phật, bất luận Tăng hay Cư Sĩ đều sử dụng 5 Tâm hương của mình để Cúng Hương lên Tam Bảo trong 10 phương hiện tại (Hiện tiền Tam Bảo Phật-Pháp-Tăng). 

Gọi cúng hương này là “Niệm hương”. Bài Niệm hương: Giới hương, Định hương, giữ Huệ hương, Giải thoát, Giải thoát Tri kiến hương. Quang minh vân (mây) đài biến pháp giới, cúng dường thập phương Tam Bảo tiền. Nam Mô hương Vân Cái Bồ tát, Ma ha tát. Hoặc “Nam Mô hương cúng dường Bồ tát, Ma ha tát”. 

Cho dù ngôn ngữ lúc niệm hương bạch Phật là tiếng Việt, Tầu, Nhật, Anh, Pháp, Mỹ…vẫn không ngoài 5 Tâm Hương đó(giới, định, huệ, giải thoát và tri kiến). Cụm từ “Hương vân cái”, có nghĩa là : “Cây lọng khói trầm hương”. Do khói trầm, từ lư trầm tỏa lên không trung, tụ lại như cây lộng giữa bầu trời bao la, nếu không nói là nhân cách hóa.

Bài niệm hương trên không thấy tác giả, hiện hữu rất lâu đời trong chốn thiền môn Việt Nam cả thế kỷ qua từ 1900, được chư Tăng, Ni tại các chùa Việt Nam trên 3 miền Bắc, Trung, Nam niệm lên thành lời để cúng hương trước bàn Phật. Niệm đủ 5 tâm hương ấy, rồi cắm ba cây hương lên lư hương, sau đó vào nghi lễ tụng niệm cầu Siêu, cầu An, lạy sám hối, v.v…

Sau này, một số chư Tăng thuộc Tổng Hội Phật Giáo VN đã soạn thêm một vài bài Niệm hương. Chẳng hạn như bài DÂNG HƯƠNG: Hương xông đảnh báu. Giới, định, tuệ hương.

Giải thoát, tri kiến quý khôn lường. Ngào ngạt khắp muôn phương. Thanh tịnh tâm hương. Đệ tử nguyện cúng dường. Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. Bài Dâng Hương này vẫn còn đủ 5 Tâm Hương.

Một bài niệm hương nữa, có tên “CÚNG HƯƠNG.” Nguyện thử diệu hương vân. Biến mãn thập phương giới. Cúng dường nhứt thiết Phật. Tôn Pháp chư Bồ tát... Bài Cúng Hương Tán Phật : “Nguyện đem lòng thành kính. Gởi theo đám mây hương. Phưởng phất khắp mười phương. Cúng dường ngôi Tam bảo...” 

Những bài Niệm Hương, Cúng Hương, càng về sau, bớt đi 5 tâm hương. Mặc dù có bớt đi, nhưng tâm ý những người con Phật cúng hương, niệm hương vẫn ẩn tàng 5 tâm hương bên trong. Qua đây, cho ta thấy 5 tâm hương rất quan trọng đối với các hành giả trên bước đường tu tập Phật pháp để đạt cho bằng được tư lương giải thoát.

Năm Tâm Hương : Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương, Tri kiến hương. Năm tâm hương được viết ra thành văn, thì chữ hương luôn đi cùng với 5 chữ: Giới, Định, Huệ, Giải thoát, Giải Thoát Tri kiến. Khi niệm hương, chư Tăng, Ni đọc theo lời văn của niệm hương, cho nên có chữ Giữ đi với Huệ hương và 2 lần Giải thoát, Giải thoát, rồi mới đến Tri kiến hương sau cùng.

Người niệm hương trước bàn Phật, phải là Tăng, Ni có đủ ba đức tính lớn: Giới, Định, Huệ, ba Tâm Hương của các bậc tu hành cao tột, trong vai trò trụ trì ngôi chùa, Tu viện, lãnh đạo tối cao trong các giáo hội, mới có thể đại diện cho Tăng đoàn và Phật tử, quỳ trước bàn Phật, nói lời tác bạch lên chư Phật, Bồ Tát, chư Thánh hiền Tăng trong mười phương, trước khi đi vào nghi lễ cầu an, cầu siêu, các lễ vía chư Phật, Bồ Tát, chư vị Tổ sư, Hòa Thượng, Ni sư tiền bối đã viên tịch.

Để biết rõ thêm bản chất và lý nghĩa của 5 tâm hương qua sự giảng luận sau đây: Năm Tâm hương trên, trong đó ba thứ Giới, Định, Huệ (Tuệ), là nền tảng vượt thoát khỏi sinh, tử, luân hồi, gọi là ba thứ Vô lậu. Lậu, có nghĩa là bị lọt vào con đường sanh tử, luân hồi, bị lọt xuống ba cõi Ác: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh. Vô, có nghĩa là không bị. Vô lậu, không bị lọt vào ba đường ác. Qua đó, cho ta thấy rằng; chư Tôn đức Tăng, Ni trong Phật Giáo Việt Nam nói riêng, thế giới nói chung, đều có Tâm vô lậu, cho nên vào lời niệm hương, quý Ngài nói ba lời: Gới hương, Định hương, giữ Huệ hương…

Giới Hương . Bản chất của Giới là thanh tịnh. Cội gốc của muôn hạnh lành, do tâm hành giả trên vận hành tu tập, có quyết tâm hành trì các giới luật của Phật, sống đúng tám con đường chơn chánh một cách nghiêm mật. Suốt đời tu hành, thân, khẩu, ý luôn thanh tịnh, nguyện làm các điều lành. 

Được mọi người ngoài xã hội, trong Phật giáo thấy rõ qua những đức tính: từ, bi, hỷ, xả, không còn những thứ ngã: nhân, sở, ái… luôn thương yêu mọi loài vật và con người trong các gới một cách bình đẳng trong đối đãi. Những bậc tu hành có giới đức nghiêm minh, được tỏa ra khắp nơi, làm cho đồng bào các giới nghe, biết đến, giống như nghe đến mùi thơm của hương trầm, cho nên cụm từ Giới hương, cũng được gọi là Giới Pháp Thân, như thân Phật.

Định hương. Định, nghĩa là tâm thanh tịnh, vắng lặng, gọi tắt là tịch tịnh. Nói khác hơn, tâm của hành giả trong đạo Phật trên vận hành tu tập, luôn luôn tỉnh thức, an trú trong chánh niệm, đối cảnh luôn vô tâm, xa lìa mọi vọng niệm, không hề khởi tâm nhận thức hay khái niệm, gọi là im lặng như chánh pháp. 

Tuy nhiên, đôi lúc cũng tư duy về công án tu tập và phương cách phụng trì chánh pháp cho công cuộc hoằng hóa độ sanh, luôn nói đúng theo chánh pháp. Tất cả những tư tưởng vì đạo pháp này, giống như khói trầm hương từ lư trầm vươn lên cao vút tận trời mây, không bao giờ lộn xuống không gian cõi trần. 

Qua đó, cho ta thấy rằng; tâm định là tâm siêu lên như khói trầm hương. Cũng như vậy, tâm hồn của chư Tăng, Ni luôn luôn sống trong định, cho dù có tư duy công việc đạo pháp, tâm hồn quý Ngài, cũng vẫn vươn lên như khói trầm hương, vì không có việc nào là ích kỷ, riêng tư của quý Ngài ! Nếu không nói là tự tánh bất động trước vật chất. Do đó cụm từ Định hương, được gọi là Định Pháp Thân, như thân Phật.

Huệ hương. Huệ, nói cho đủ là trí huệ, hay trí tuệ, tuệ giác. Tâm thức của hành giả trong đạo Phật, được có trí huệ, là do qua quá trình giữ gìn giới luật một cách kỹ lưỡng, nói như lời Phật dạy: “Người tu tập Phật pháp phải giữ giới luật, như gìn giữ con Ngươi của mình. Bên cạnh đó, luôn thường hằng hành thiền định, gọi là sống trong định. 

Nhờ hai thứ: gìn giữ giới luật và thiền định, là năng lực xua đuổi, nhận chìm các lậu hoặc bên trong, làm cho tâm yên lặng, trống rỗng, không bị cảnh trần chi phối, là nền tảng phát sinh ra trí huệ, giống như tim đèn sáng rực, đứng yên một chỗ không bị lu, bị tắt, do có bóng đèn che gió. Nói rõ hơn, tâm hành giả không còn bị tám ngọn gió cảnh cảnh giới (bát phong) thổi vào tâm ý nữa.

Tâm hành giả, một khi được có Huệ rồi, không bao giờ nghĩ đến các việc ác. Bởi vì đã thấy rõ nguyên lý của các việc ác, nếu hành động, ắt sẽ nhận lãnh quả báo nghiệp của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, luân hồi, sanh tử, cho nên luôn tránh né. Nếu có nghĩ, nghĩ đến những điều hay, lẽ phải, cao siêu, mang tính trong sạch, thơm tho, giải thoát. Nếu hành động cứu khổ độ sanh, thì tâm hồn vươn cao, siêu lên giống như khói trầm hương luôn bay cao lên không trung. Vì thế cho nên cụm từ

Huệ hương, được gọi là Huệ Pháp Thân, như thân Phật. Giải thoát hương . Một lúc nào đó, hành giả tự cảm thấy tâm hồn mình thảnh thơi, thanh tịnh, an lạc trong thực tại, không nghĩ ngợi, giận hờn, suy tư gì hết trước sắc trần thế gian. Được như vậy, do thường trực tri hành ba giáo pháp Vô lậu : Giới, Định, Huệ. Ba tâm hương vô lậu này, cũng gọi là Hương Vị Chân Tâm, chính là tâm giải thoát của những hành giả trong đạo Phật nói chung, chư Tăng, Ni nói riêng. Nếu ai đang có ba Tâm hương ấy ngay thực tại trong kiếp này, ắt sẽ được giải thoát, siêu lên các thế chư Phật ở mai sau. Qua đây, cho ta thấy rõ ràng ba pháp: Giới, Định, Huệ, là NHÂN. Hành giả tri hành ba pháp vô lậu này một cách đúng đắn, thì nhất định được có quả giải thoát không sai chạy.

Giải Thoát Tri Kiến Hương . Giải Thoát Tri kiến hương, là phần của hành giả đã thấy được tư lương giải thoát, là do ba pháp Vô lậu: Giới, Định, Huệ, qua quá trình tu tập về giới luật , thiền định. Nhờ thiền định, tâm có trí tuệ. Cho nên, nghĩa của Giải Thoát Tri kiến Hương, là phần thấy cuối cùng của cái tâm có chứa đựng ba môn học giải thoát ngay sau khi được có Trí huệ hay còn gọi Tuệ giác.

Với chư tôn đức trong Phật giáo Việt Nam và thế giới, càng thấy rõ hơn ba môn học Vô lậu (Tam vô lậu học), là nền tảng trọng yếu đối với những ai đến với đạo Phật, để tìm cầu cho mình con đường giải thoát, là phải tiếp nhận “BA MÔN HỌC GIẢI THOÁT” (Tam Vô Lậu Học), rồi quyết tâm tu tập đúng cách, đúng pháp về Giới, Định, Huệ, thì nhất định ắt sẽ được có Tâm hương giải thoát, thường hằng siêu lên các thế giới chư Phật ngay trong kiếp này, không đợi ở tương lai sau khi xả bỏ báo thân trần thế!

Hành giả thấy biết trước “Tâm Hương Giải Thoát” (Tri kiến Hương) hôm nay và cả mai sau, đó là những danh Tăng Phật Giáo Việt Nam. Cho nên quý Ngài đã biên soạn thêm một số bài Niệm Hương Cúng Dường, tác bạch lên chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền Tăng trước khi vào các nghi thức tụng niệm. 

Trong bài niệm hương. Nếu không nói rằng; để nhấn mạnh và nhắn nhử quý Phật tử các giới về ba bài pháp Giới, Định, Huệ là con đường giải thoát rất quan trọng, cần phải tinh tấn, tri hành trên vận hành tu tập…Do vậy, nhiều bài niệm hương sau này; từ 1959 trở đi, cũng do một số danh Tăng Việt Nam biên soạn có Giới, Định, Huệ hương hay không có nhưng, Giới, Định, Huệ Hương vẫn ẩn tàng trong bài, không bao giờ mất ba thứ quan trọng đó.

Đọc thêm..